Thế giới của đồ họa vật lý trong Kỹ xảo điện ảnh – P 1

3
196

Những năm gần đây, cứ đến mùa hè ta lại được xem hàng loạt phim bom tấn với những màn phô diễn kỹ xảo điện ảnh hoành tráng, đến từ nhiều nước trên thế giới, mà tập trung chủ yếu nhất vẫn là Mỹ với hàng chục bộ phim mỗi năm. Hollywood là cái tên mà không ai là không biết khi nói đến điện ảnh.

Dấu ấn Hollywood trong bản đồ Kỹ xảo điện ảnh thế giới.

Những bộ phim hành động, phiêu lưu, viễn tưởng hoành tráng của Hollywood thường xuyên xuất hiện những cảnh quay nguy hiểm như cháy, nổ, ngập lụt, sụp đổ… Tất cả đều được tạo nên từ bàn tay tài hoa của những nhà làm phim. Mỗi bộ phim hoành tráng đều được thực hiện bởi một nguồn nhân lực khổng lồ, được tập hợp từ rất nhiều công ty khác nhau. Mỗi một công ty, hãng phim ở Hollywood đều là một thực thể quan trọng trong dây chuyền sản

hieu ung vat ly trong ky xao dien anh
Một cảnh trong phim The Day After Tomorrow

 Từ những bước làm phim cơ bản, nền công nghiệp điện ảnh đã tiến hóa sau hàng trăm năm tồn tại. Trước đây mỗi hãng phim đều có thể tự mình làm một bộ phim với đầy đủ máy móc và thiết bị, nhưng sau hơn 40 năm đồ họa kỹ thuật số ra đời, thì ngành công nghiệp này phát triển nhanh và mạnh đến nỗi, mỗi một hãng phim chỉ có thể làm một vài khâu trong dây chuyền sản xuất phim. Thậm chí mỗi hãng phim đều có một thế mạnh riêng mà những hãng khác khó có thể cạnh tranh. Điều này đã xây dựng nên một cường quốc công nghiệp điện ảnh mạnh mẽ.

 Những thành công ấy tuy rất khổng lồ nhưng lại được xây dựng từ những con người nhỏ bé, từ những bước nhỏ và liên kết với nhau thành một kết quả không thể chê vào đâu được. Chủ đề của chuỗi bài viết này chúng ta sẽ chỉ tập trung vào một khâu rất quan trọng trong quy trình làm phim điện ảnh:đó là kỹ xảo vật lý và hiệu ứng đặc biệt.

Hai yếu tố cấu thành tạo nên nền công nghiệp kỹ xảo điện ảnh

I – Hiệu ứng đặc biệt Special Effects (SFX)

Hẳn các bạn đã từng rất nhiều lần được xem chương trình Movie Magic – Điện ảnh kỳ ảo được chiếu hàng tuần trên truyền hình giai đoạn 2000 đến 2010. Mỗi chương trình được thu thập từ rất nhiều đoàn làm phim, nhiều phân cảnh kỹ xảo nhỏ, từ giai đoạn chuẩn bị đến bước chỉnh sửa sau cùng.

SpecialEffects là thuật ngữ diễn tả một hiệu ứng phim ảnh được ghi hình lại bằng những công cụ đặc biệt sao cho có thể diễn tả được một yêu cầu phức tạp mà không thể thực hiện được trên thực tế. Bộ phim đầu tiên được dùng kỹ thuật hiệu ứng đặc biệt (còn được gọi là kỹ xảo phim trường) là The Enchanted Drawing được thực hiện vào năm 1900. Bộ phim này sử dụng kỹ thuật cắt phim để thể hiện ý tưởng – tương tác giữa người thật và người trong tranh. Lúc mới khởi đầu, nó được khán giả rất chú ý vì họ chưa thể tưởng tượng được một người bình thường lại có thể sử dụng “phép thuật” (magic) để chọc ghẹo một người trên tranh.Những tuyệt phẩm sau này như King Kong 1933, The Wizard of Oz 1939, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Star Wars, Tron, Back to the Future, Forbidden Planet, Terminator, và bộ phim nổi tiếng nhất giai đoạn 1990 là Jurrasic Park.

hieu ung vat ly trong phim cong vien ky jura
Một cảnh trong phim Jurrassic Park

Có thể nói SFX đã ra đời gần như cùng lúc với điện ảnh. SFX chủ yếu được dùng để quay lại những cảnh tai nạn, các vụ nổ khổng lồ, những con vật khổng lồ (Pirates of the Caribbean: A Dead man Chest, Jurassic Park), nổ tàu ngầm dưới đáy biển, di chuyển trong khoảng không rất rộng (Super Man, Spider Man), những vật thể khổng lồ (Ngày độc lập), quay những cơn bão to (The day after Tomorrow)…

Để thực hiện những cảnh quay đó, các nhà làm phim phải tận dụng tối đa các kiến thức vật lý, quang học, hóa học, giải phẫu, kiến trúc… Hầu như không có một kiến thức nào là thừa. Đối với những cảnh cháy nổ, từ lâu trên thế giới đã sử dụng những phương pháp thu nhỏ tỷ lệ của đối tượng quay, hoặc dùng kỹ thuật quay xa gần để tạo một vụ nổ nhỏ trông như một vụ nổ lớn, dùng máy quay cực nhanh để mô tả lại một cảnh hoành tráng. Kỹ thuật đánh lừa thị giác được sử dụng thường xuyên.

 Trong bộ phim Transformer 3, đạo diễn lừng danh Michael Bay đã thuê hẳn một góc thành phố Chicago để quay những cảnh phim hoành tráng. Và tất nhiên, hiệu ứng phim trường cũng được sử dụng tối đa, từ mỗi cây súng với những băng đạn không đầu, đến những cần cẩu hất tung xe hơi. Thậm chí có những cảnh quay khó, cần sự chính xác trong từng frame hình,ông không ngại sử dụng thuốc nổ nhiều lần để quay chính xác cảnh mà ông muốn.

Tuy nhiên, SFX không phải là một cách làm hay. Đơn cử những cảnh quay có cháy nổ, sự an toàn của diễn viên đặt hoàn toàn vào ê kíp nổ, chi phí quay rất cao do phải quay đi quay lại nhiều lần, đồng thời chi phí cho ê kíp nổ cũng không hề rẻ. Do vậy, từ lâu người ta đã phát triển thêm một phương pháp mới để thực hiện những cảnh cháy nổ hoành tráng này mà không dùng đến thuốc nổ, đó là VFX – hiệu ứng hình ảnh.

II – Hiệu ứng hình ảnh Visual Effects (VFX)

Hiệu ứng hình ảnh VFX là một thuật ngữ nhằm chỉ những kỹ xảo điện ảnh được thực hiện trên máy tính. Khởi nguồn của nó là một video clip ngắn 3D được sản xuất năm 1971, lúc này nó là một phần mềm của tiến sĩ  Edwin Catmull viết ra. Đó là phần mềm 3D đầu tiên trên thế giới. 10 năm sau, bộ phim Tron (1982) đã ứng dụng kỹ thuật rất mới này vào bộ phim nhằm tạo hiệu ứng transform cho chiếc mô tô. Nhưng bộ phim gây tiếng vang lớn nhất trong ngành đồ họa lúc đó lại là Star War, bộ phim đã khắc sâu vào tâm trí người hâm mộ toàn thế giới vì hiệu ứng hình ảnh quá tốt.

Kể từ lúc này, trận chiến kỹ xảo điện ảnh bắt đầu được đẩy mạnh. Và ứng dụng của nó đã tạo ra những thành quả to lớn. Giới đồ họa bắt đầu làm quen với một thuật ngữ mới, đó là Physics Simulation (mô phỏng vật lý) bao gồm mô phỏng nước, gió, bụi mù, sương, khói, lửa, rơi, vỡ… tất cả những gì chúng ta biết về vật lý đều được các nhà khoa học tái tạo trên máy vi tính.

Mô phỏng vật lý được ứng dụng đầu tiên trong quân đội Mỹ, với những khả năng  thay thế môi trường thật cho quân đội tập luyện. Các chương trình tập luyện thường chỉ tiêu tốn gói gọn trong một phòng máy với một chiếc ghế mô phỏng máy bay hoặc xe tăng, hệ thống máy áp lực dầu có thể di chuyển ghế ngồi của phi công chỉ để tạo cảm giác gần chính xác với thực tế.

Sau đó, công nghệ này dần dần hiện đại hóa, lần đầu tiên được sử dụng trong phim Tron năm 1982 với chỉ vài phút phim. Sau đó bộ phim Jurassic Park ứng dụng tiếp tục các hiệu ứng này và thành công vang dội. Ra đời sau đó là phim Toy Story tiếp tục ứng dụng những hiệu ứng mô phỏng vật lý này. Cho đến nay, hầu như không có bộ phim kỹ xảo nào không có Physics Simulation.

Tất nhiên, ứng dụng của mô phỏng vật lý không chỉ nằm ở phim ảnh, mà nó còn phát triển rất mạnh ở video game. Hiệu ứng vật lý được ứng dụng lần đầu tiên ở game The Sims, Command & Conquer, World of Warcraft. Đến nay, một trong những video game ứng dụng hiệu ứng vật lý mạnh mẽ nhất và đẹp nhất là Crysis 3, Tomb Raider 2013, GTA 5, v.v Bạn có thể phá hủy gần như mọi thứ trong game mà bạn thấy được, chỉ để thỏa sức “phá hoại”, thưởng thức âm thanh và hình ảnh của game với độ trung thực cao.

Vậy nếu nói đầy đủ thì nó là gì?

Physics Simulation là thuật ngữ chỉ một công đoạn trong dây chuyền làm phim/game/công nghiệp mà có trách nhiệm sử dụng các thuật toán trên máy tính, để tính toán tác động tương quan giữa các đối tượng trong môi trường ảo để tạo ra hình ảnh chính xác với thực tế.Nó bao gồm tính toán kết cấu công trình, độ rắn của chất liệu, mức độ giãn nở, lập mô hình khí tượng, thử nghiệm cấu trúc khí động học…

Các bạn đang xem quy trình thử nghiệm khí động học của một mẫu xe trước khi được sản xuất. Physics simulation được thể hiện chủ yếu ở việc tính toán dòng khí bao quanh xe để tìm phương án có độ cản không khí thấp nhất. Sau một thời gian phát triển riêng biệt, khi các hệ thống mô phỏng vật lý đã phát triển mạnh, các nhà làm phim bắt đầu sử dụng nó như một giải pháp thay thế cho các cảnh quay cháy nổ tốn kém.

Thành tựu của khoa học kỹ thuật đã giúp con người thực hiện những điều mà trước đây ta chỉ có thể ao ước. Khoa học máy tính phát triển không chỉ giúp cho nghiên cứu khoa học, áp dụng kinh doanh, mà nó còn giúp chúng ta thay đổi diện mạo của nghệ thuật, đặc biệt là phim điện ảnh. Kỳ tới chúng ta sẽ tìm hiểu về mô phỏng cháy nổ và đổ vỡ, một loại hình mô phỏng được rất nhiều nhà làm phim ưa thích

Anh Hoàng Vũ

Điện ảnh nói chung và VFX nói riêng luôn là niềm đam mê cháy bỏng của tôi, đó là lý do vì sao tôi lập nên Website này, nơi tôi có thể chia sẻ cho các Bạn những gì tôi biết...Và đây cũng là nơi tôi học ở các bạn những gì tôi còn thiếu. Bởi kiến thức là vô tận

LEAVE A REPLY