The Meg – Cá Mập Siêu Bạo Chúa

0
97

Bộ phim bom tấn The Meg được chuyển thể từ tiểu thuyết MEG: A Novel of Deep Terror của nhà văn Steve Alten. Bộ phim là hợp tác của Mỹ và Trung Quốc hơn nữa còn là sự trở lại của diễn viên hành động nổi tiếng Joson Statham và ngôi sao điện ảnh Trung Quốc Lý Băng Băng. Lần này kyxaodienanh.com xin mời các bạn cùng tìm hiểu quá trình để sản xuất và những bí mật hậu trường thú vị của bộ phim.

The Meg, được đạo diễn bởi Jon Turteltaub và với sự tham gia của diễn viên Joson Statham đã tạo ra tác động rất lớn. Trong tuần đầu tiên phát hành, bộ phim The Meg đã trở thành một trong những phim về Cá mập thành công nhất từ trước đến giờ.

Bộ phim xoay quanh một thợ lặn cứu hộ Jonas Taylor (Jason Statham), một nhà hải dương học có tầm nhìn (Winston Chao), và con gái của ông (Li Bingbing). Trong bộ phim, chiếc tàu ngầm ở sâu dưới biển, một phần của dự án quan sát dưới biển bị tấn công bởi một sinh vật khổng lồ mà trước đây tưởng rằng đã tuyệt chủng. Tàu ngầm lúc này đã bị vô hiệu hóa và phi hành đoàn đang bị mắc kẹt ở bên trong. Cùng với cuộc chạy đua với thời gian, Jonas Taylor có nhiệm vụ phải cứu phi hành đoàn khỏi mối đe dọa là một con cá mập dài 75ft được gọi là Megalodon. Taylor đã hợp tác với Suyin mạo hiểm cuộc sống của mình để đối đầu với kẻ săn mồi lớn nhất mọi thời đại, the Meg.

Sony Imageworks

Đầu năm 2016, nhà sản xuất hiệu ứng kỹ xảo Steve Garrad đã liên lạc với Sue Rowe ở Sony Pictures Imageworks (SPI) để làm việc về dự án, cụ thể là cấu trúc 3-hồi (3Act) của bộ phim. Hai người từng làm việc với nhau ở Cinesite. “Anh ấy đã nói tôi là ‘Tôi có bộ phim rất tuyệt. Tôi muốn anh thực hiện 3Act, nó sẽ là thử thách rất khó khăn” Rowe nhớ lại. “Điều thú vị là trong kế hoạch họ dự định chuyển cho chúng tôi khoảng 300 đến 400 shot, nhưng cuối cùng số cảnh quay chúng tôi nhận được lại là 200 shot. Những điều mà họ muốn chúng tôi làm là đến và lấy vật liệu – nhanh gọn lẹ – mà chúng tôi sẽ dùng để chỉnh sửa.”.

Garrad đã đề xuất phương án này khi anh biết đạo diễn Jon Turteltaub sẽ làm tốt việc chỉnh sửa các vật liệu đã được quay với hiệu ứng thô. Như cấu trúc 3act sẽ có hiệu ứng phong phú và những cảnh hành động mạnh mẽ, họ đã tin rằng đó là chìa khóa để tạo nên bộ phim. “Vì vậy với ý nghĩ đó, tôi đã tiếp cận nó theo cách hơi khác. Tôi đã có một team render mọi thứ trong (Maya) Viewport 2.0. Hai năm trước, nó là một thứ rất mới mẻ và có một chút lỗi, vì vậy nên phải mất một chút thời gian để thuyết phục. Nhưng điều tuyệt vời về cách làm việc này là tôi có thể đưa sương mù vào hình ảnh và chúng tôi có thể đặt một chùm đèn chiếu sáng vào nhưng vẫn render ngay được. Nó rất hoàn hảo cho việc ở dưới nước”. Rowe giải thích. Team SPI có thể cung cấp depth queuing và key lighting, họ di chuyển rất nhanh từ những shot previz/postviz đến các hiệu ứng kỹ xảo cuối cùng. Khi sản xuất chuyển sang giai đoạn cuối cùng, SPI đã làm gần 400 shot và đã kết thúc với 280 shot cho bản cuối cùng của bộ phim. “Tôi rất tự hào về cách chúng tôi đã làm, bởi vì chúng tôi có thể giúp họ xác định rõ công việc và sau đó nhấn mạnh sắc thái của các shot.” Trong giai đoạn đầu làm việc theo cách này, Rowe đã tránh làm việc với team Lighting hoặc Comp mà chỉ làm với Animation và Layout. Điều này cho phép SPI làm việc rất nhanh.

Một trong những shot đầu tiên mà Team giải quyết là cảnh Meg khổng lồ phá vỡ mặt nước. Ở giai đoạn post-viz, họ chỉ có những bong bóng thô trên bề mặt biển, nhưng shot này là cảnh phức tạp đến mức đây cũng là cảnh cuối cùng mà họ thực hiện xong.

Kích cỡ của Meg đã đặt là một số thử thách rất lớn. Trong những cảnh quay dưới nước, nước tự nhiên làm cho ánh sáng và những chi tiết dần mất đi sau khoảng 10 đến 15 ft từ camera, “và đó là một vấn đề lớn khi “nhân vật chính” dài 75 ft” Rowe bình luận. “Bạn không có thể quay cận cảnh tất cả các shot được, vì vậy chúng tôi đã ăn gian một chút, bạn biết đấy, đó gọi là kiểm soát nghệ thuật!” Cô ấy nói đùa. SPI cũng tìm ra rằng Meg chỉ thực sự khổng lồ khi đưa vào bối cảnh hoặc có gì đó khác trong cảnh để so sánh. Nếu một mình Meg ở trong cảnh đang bơi thì trông không dài như 75ft. “Chúng tôi đã nhận ra rất nhanh là chúng tôi cần có định hướng. Vì vậy chúng tôi ăn gian bằng cách thêm nước vào mặt sau của cá mập hoặc thêm một số hạt nước” Rowe giải thích. Cô ấy cũng đã quyết định ngay từ đầu là tạo ra footage trông như gần với phim tài liệu. Lấy ví dụ, nếu “chúng tôi quay phim dưới nước, tôi quyết định để máy quay trôi dạt như là dòng chảy nước có sức cản thực sự”.

Với những cảnh vờn nhau trên tàu lượn mini, các diễn viên đã quay phim trên một hệ thống máy 5 trục chuyển động tự do. “Họ có rất nhiều cách để di chuyển. Khi Joson (Statham) ném Glkder xung quanh, anh ấy đã rất thích phần diễn xuất đó, nó rất tuyệt,” Cô ấy nhớ lại. “Điều đó đã làm cho chúng tôi nhận thấy được một ít tính chất vật lý thực sự hữu ích, bởi vì khi nhân vật trong trạng thái tĩnh thì bạn sẽ di chuyển camera lùi lại và tiến lên. Chúng tôi đã thực hiện rất nhiều cảnh di chuyển bao quát.” Team đã xây dựng lại Vịnh từ nguyên tắc nhiếp ảnh và phải đảm bảo rằng phải dựa trên Vinh thật và đi đúng theo câu chuyện.

Một khía cạnh mà Rowe thấy rất thú vị là những bong bóng xuất hiện ở phía sau của tàu ngầm. “Ngày đầu on set, đạo diễn Jon Turteltaun đã nói với tôi, “Vậy còn cavitation (sóng âm) thì sao? Bộ phim này tất cả là về cavitation, điều này tùy thuộc vào bạn?’ Và tôi đã trả lời, “ bạn nói đúng, đó là cavitation” và sau đó tôi đã tìm kiếm cavitation trên Wikipedia. Đó là một thuật ngữ được sử dụng khi cánh quạt quay với tốc độ lớn thì dòng nước giống như đang được đun sôi và nó sẽ đẩy tàu về phía trước”. Ngay khi kết thúc quá trình sản xuất, vào tháng trước, “Jon đã thay đổi suy nghĩ của mình về cavitation sẽ trông như thế nào và chúng tôi sẽ mô phỏng lại mọi thứ. Chúng tôi thay đổi trọng lực và nước nhưng anh ấy đã đúng, nó trông tuyệt hơn nhiều. Bây giờ thì trông nó đã hợp hơn.”

Lighting

Sue Rowe đã theo dự án này 18 tháng. Bộ phim đã được quay bằng Arri Alexa Mini với ống kính Zeiss Master Anamorphic bởi DOP Tom Stern (Sully). Bộ phim được quay trong 2 tháng. SPI đã render công việc hiệu ứng kỹ xảo của họ trên phiên bản Arnold của SPI cho phù hợp với hình ảnh. Mặc dù giải pháp của SPI là thường không tái sản xuất lại cho phù hợp với cảnh dưới nước, chỉ là họ đồng tình với cách làm đó. Rowe đã ở trường quay ngoài bờ biển Auckland 3 tuần để quay lại các yếu tố, đó là 3 tuần mà cô ấy không thích (do bị say sóng).

SPI đã giả lập nguồn ánh sáng nhưng họ đã làm điều này rất tinh tế. Một ví dụ thú vị là thêm các tia sáng dưới nước hoặc “God ray” (tia sáng mặt trời) vào trong nền để tạo độ sâu cho cảnh quay. Họ giữ các khung hình khá tối vì Rowe muốn dựng lên khung hình theo cách đa chiều, đặc biệt là với ánh sáng trong background. “Mỗi khi cá mập đến gần chúng tôi sẽ thêm một chút đèn nền vào và một chút Rim light bắt lấy hàm răng, mà một ít từ bên dưới. ‘Monster lighting, tôi đã gọi như vậy, bởi vì bạn biết đấy, đó là vì kịch bản đã gọi như vậy!”

The Meg

Thực tế ban đầu Meg được tạo ra bởi Scanline VFX và họ sử dụng phần mềm Ziva dynamic để tạo ra sinh vật. Scanline đã chia sẻ nội dung với SPI người đã sửa lại nó cho. “Scanline được tham gia ngay từ ban đầu. Scanline đã thiết kế và tạo mô hình của Shark,” Rowe giải thích. “Chúng tôi đã chia sẻ nội dung, điều đó thật tuyệt. Chúng tôi đã làm lại hoàn toàn và thêm cơ bắp vào. Chúng tôi đã sử dụng Ziva. Hệ cơ bắp được xây dựng từ giải phẩu sinh vật một cách chính xác, và sau đó bạn sẽ có những hình dạng cơ rất tuyệt và animation sinh vật. Tôi đã sử dụng nó trước trên Maze Runner. Chúng tôi có thể kiểm soát số lượng gợn cơ trên cá mập. Cuối cùng chúng tôi đã cường điệu lên để tạo hiệu ứng”. Những cảnh 3Act rất ngắn, bình thưởng chỉ 2 hoặc 3 giây. “Họ không kéo dài vì vậy bạn sẽ thấy trong một vài cảnh Meg giống như là một con ngựa đua thuần chủng với một chút gợn sóng ở phía sau” Rowe giải thích.

Team ở Sony cũng đã làm cường điệu thêm ở phần mang của cá mập. Điều thú vị là con cá mập thật có thể thông nước ra bằng mang. Khi miệng của Cá mập đang mở, nước không thể đi qua cơ thể của nó, vì vậy nó sẽ không di chuyển nhanh qua nước được. Điều này có nghĩa là, với một con cá mập thật, trong một vài footage có thể thấy xuyên qua được miệng với mang của cá mập. Đương nhiên là team SPI đã tạo ra mô hình đó nhưng Rowe nhớ lại là “nhìn vào bản render cá mập xoay thử nghiệm 360 độ mà chúng tôi đã làm, và tôi đã nói “Ồ không, chúng tôi gặp vấn đề ở đây!’ Nhưng những modellers đã giải thích, ‘Không phải đâu, đúng rồi đó, bạn có thể nhìn xuyên qua mang con cá mập’”.

Thực ra họ đã đưa vào Meg một ít biểu cảm ở miệng. Team cũng đã thêm phần mũi cong nhẹ và đã gây ra tranh cãi (ít nhất là trong nội bộ), Rowe đã yêu cầu thêm lông mày. “Và team đã nói ngay là “Ôi, làm ơn đừng nhân cách hóa con cá mập” Nhưng tôi đã nói rằng ‘tin tôi đi’. Và vì vậy chúng tôi đã thêm lông mày để làm cho đôi mắt hoàn hảo hơn, và điều này đã thay đổi tất cả”. Giám sát Animation Craig McPherson và Rowe đã làm việc với nhau rất cẩn thận để tạo ra sự tinh tế – đôi khi chỉ cẩn xoay 15 độ hoặc điều chỉnh mũi ra xa hơn sẽ có được hiệu suất rất đáng sợ. “Những thử nhỏ chúng tôi đã làm đều rất tinh tế, chỉ là tạo ra sự khác biệt. Đó là sự đổi mới”. Rowe muốn chắc chắn là trông Meg không giống như nó đang nổi trên nước mà là đang di chuyển rất mạnh mẽ. Team cũng thêm cái đuôi đang quẫy và một vài thứ khác để trông giống như là nó đang được điều khiển. Nhưng làm cho Meg lúc nào trông cũng lớn là điều rất khó khăn.

Để tạo thêm ấn tượng về kích thước, team đã thêm rất nhiều cá, và bất cứ thứ gì để cho khán giả thấy được kích thước to lớn của con cá mập. “Chúng tôi đã thử mọi thứ! Thêm đàn cá vào phía trước, vào background, thêm cây tảo biển, ngoại trừ việc ngay cả cây tảo biển trong đó cũng cao đến 200ft” Rowe giải thích. Bí quyết để team SPI có thể trở lại là ý tưởng đa mặt phẳng. “ “Tôi sẽ đặt mọi thứ ở phía trước. Meg sẽ ở giữa, với phiên bản nhỏ hơn với những tảng đá mờ dần phía sau nó. Quy mô là một vấn đề lớn”. Đối với SPI, giải pháp số một là thêm bong bóng vào cảnh quay sẽ giúp tăng thêm năng lượng và quy mô. Team đã đặt tên cho nó là streamers. Ngay cả khi nó không được kích thích thì vẫn có một luồng bong bóng từ vây hoặc mũi của nó cũng sẽ được thêm vào để tạo cảm giác quy mô, cường độ và chuyển động liên quan đến nước. Rowe nhắc lại rằng bong bóng sẽ đi ra từ mang hoặc mũi rồi chảy xuống cơ thể. Những bong bóng nhỏ chảy xuống dọc cơ thể, chạy qua mang rồi xuống vây và đuôi, điều này cho thấy được tốc độ và tỉ lệ của con cá mập, như thể có một luồng năng lượng đến và trông giống như một cuộc chiến dưới nước”.

ScanlineVFX

ScanlineVFX đã làm rất nhiều về vfx trong phần đầu của bộ phim. Họ được biết đến với việc mô phỏng dưới nước và vì vậy nên họ được lựa chọn để thực hiện bộ phim này. ScanlineVFX đã sử dụng phần mềm Ziva để hỗ trợ cho việc tạo gợn cơ bắp của cá mập khi nó bơi thì lớp mỡ bên dưới da của nó sẽ phản ứng với lực nước.

Quá trình sử dụng AI (Machine Learning) để tạo ra training data (dữ liệu huấn luyện) họ đã sử dụng bộ vi xử lý Intel Xeon Scalable cho quá trình này. Điều này đã thúc đẩy công cụ vật lý trong Ziva.

Ngoài ra, ScanlineVFX cũng sử dụng vi xử lý Intel Xeon để render các shot trong bộ phim, Stephan Trojansky, Chủ tịch kiêm giám sát VFX tại Scanline đã nói rằng: “để tạo ra ‘The Meg’ chúng tôi phải cần một lượng sức mạnh xử lý lớn trong hệ thống máy tính của chúng tôi. Cách đây nhiều năm, bạn sẽ cần một phim trường lớn với rất nhiều người để có thể tạo ra từng cảnh nhỏ của một bộ phim. Nhưng nay, chúng tôi có thể dùng 2.500 vi xử lý Intel Xeon với gần 100.000 lõi xử lý để tạo ra những hiệu ứng cần thiết cho bộ phim. Điều này cho phép chúng tôi tạo ra các bản dựng một cách nhanh chóng và khả năng trình bày nhiều tùy chọn cho đạo diễn, điều này rất quan trọng trong việc tạo ra hiệu ứng hình ảnh tốt nhất có thể.”

Theo fxguide.com (dịch)

Ngân Dương

 

Ý kiến bạn đọc